Người đó có thể chỉ ra phần nào của cuốn sách sử dụng các từ tác động đến cảm xúc. Aristotle đã nhận định rằng tiêu chuẩn của tính chân thực trong thơ ca không giống như trong chính trị hay trong vật lý, tâm lý học. Trong quá trình đọc kiểm soát, đặc biệt là với một cuốn sách dài và khó, bạn có thể hiểu thấu đáo ý kiến của tác giả về chủ đề mà họ nêu ra.
Lịch sử là một từ đa nghĩa cũng giống như thi ca. Một người đọc sách giỏi bao giờ cũng đọc một cách chủ động với sự tập trung cao. Do việc phải biết cấu trúc của một cuốn sách hết sức cần thiết nên chúng ta có quy tắc đọc sách thứ hai và thứ ba.
Tóm lại, hai nhận xét đầu chỉ ra khuyết điểm của tác giả trong cơ sở lập luận. Vì thế, nỗ lực chủ yếu của độc giả là phải tìm hiểu các từ ngữ, đưa ra nhận định ban đầu. Nhưng còn có những thứ khác nữa trong giao tiếp của con người.
Ông đã miêu tả những loại sai lầm mà có thể có ý nghĩa với mọi người nói chung hơn là với bản thân ông ta hay với những người dân Hy Lạp. Bên cạnh hai loại câu hỏi trên, có những câu hỏi về sự cần thiết và tính ngẫu nhiên; về vật chất và phi vật chất; vật lý và phi vật lý, tự do và không xác định; về năng lực của trí tuệ con người; bản chất và mức độ kiến thức của nhân loại; về sự tự do của ý chí. GẠCH DƯỚI: Gạch dưới những điểm chính, những nhận định quan trọng hay có sức thuyết phục.
Với thơ, nó càng quan trọng, quan trọng hơn việc áp dụng quy tắc ấy với một tác phẩm khoa học, triết học hay thậm chí là một cuốn tiểu thuyết hoặc kịch. Ví dụ, khi ta muốn đọc một tài liệu nào đó nhưng nó lại được viết bằng tiếng nước ngoài mà ta không thạo lắm. Ai thực hiện nhiều hoạt động hơn sẽ đọc tốt hơn.
Nếu một tác giả khẳng định sự tồn tại của hiện tượng hoặc đặc tính của ý tưởng, ta có thể đặt thêm câu hỏi với tác phẩm của người này. Ngược lại, độc giả hay thính giả giống người bắt bóng trong môn bóng chày nhiều hơn. Giả sử bạn biết về kho tàng văn học của chúng tôi tường tận đến mức động đến vấn đề nào là bạn biết ngay nó được viết ở sách nào.
Đây là giai đoạn thứ ba trong quá trình đọc phân tích, và cũng có những quy tắc tương tự hai giai đoạn trước. Trả lời những phản đối: Văn phong mang tính triết học phát triển vào thời Trung cổ và được thể hiện rõ trong tác phẩm Summa Theologica (Thần học Summa) của Thánh Thomas Aquinas. Thứ hai, độc giả không nên đấu khẩu hay gây sự.
Tuy nhiên, sự lý tưởng ở đây cũng chỉ là tương đối. Trong cuốn sách trước, tôi không đề cập đến, hoặc đề cập không thoả đáng nhiều nội dung như: những quan điểm mới về cách học đọc, sự phân tích toàn diện và chặt chẽ hơn về nghệ thuật đọc đầy phức tạp, áp dụng linh hoạt các nguyên tắc cơ bản trong các cách đọc khác nhau, việc phát hiện và hình thành những quy tắc đọc sách mới,… Trong lần tái bản này, tất cả những điều trên sẽ được diễn giải thấu đáo hơn. Vấn đề nằm ở chính việc gạt bỏ hoàn toàn các câu hỏi triết học hạng nhất vốn rất được độc giả bình thường quan tâm.
Để chứng minh nhận xét này, bạn phải lập luận một sự thật hoặc một khả năng lớn hơn đối lập với sự thật của tác giả. Một cuốn từ điển tốt sẽ trả lời được cả bốn câu hỏi khác nhau về từ. Nhưng lời của tác giả - được trích dẫn một cách cẩn thận để không bị sai lệch ý - phải được kèm vào phần tóm tắt giúp người viết, cũng là để người đọc theo phương pháp này tự đánh giá được liệu mình đã hiểu đúng ý tác giả chưa.
Độc giả phải hỏi cùng một loại câu hỏi: Mục đích của tác giả là gì? Những tiêu chuẩn đánh giá sự thật của tác giả là gì? Và tất nhiên, chúng ta cũng phải hỏi cả những câu mà chúng ta vẫn đặt ra với bất cứ cuốn sách nào. Rõ ràng, vấn đề không phải là không thể vượt qua. Tác giả có thể dùng dấu trích dẫn hoặc chữ in nghiêng để đánh dấu các từ đó giúp người đọc dễ phát hiện; hoặc hướng sự chú ý của độc giả vào từ đó bằng cách đề cập các nghĩa khác nhau của từ và chỉ rõ cách dùng trong những tình huống cụ thể; hoặc tác giả có thể nhấn mạnh bằng cách định nghĩa vật được gọi tên bằng từ đó.