Thậm chí nếu tác giả chứng minh cho lập luận của mình bằng việc chỉ cho chúng ta cách tiếp cận nguồn thông tin cho những lập luận đó và những nguồn tài liệu đó hoàn toàn phù hợp, chúng ta vẫn cảm thấy tác giả đã hiểu nhầm chúng và đánh giá sai về chúng (có thể do tác giả thiếu hiểu biết về bản chất con người hay những vấn đề của con người). Nếu bạn đọc phân tích từng cuốn một, bạn không chỉ có một khái niệm rõ ràng về vấn đề đang cần nghiên cứu - chính là chủ đề chung trong đọc đồng chủ đề - mà bạn còn biết được cuốn nào không liên quan gì đến tình yêu, tức là nằm ngoài phạm vi nhu cầu tìm hiểu của bạn. Chỉ khi bạn phân tách được tất cả các nhận định khác nhau thì bạn mới hoàn thành việc phân tích một câu quan trọng.
Việc này xuất phát từ những hiểu biết còn chung chung và khá mơ hồ về cuốn sách. Điều này không hề mâu thuẫn với tính cấp thiết của việc tìm được một hệ thống thuật ngữ trung lập để phân tích vấn đề. Có nguyên nhân sâu xa nào khó nhìn ra trên bề mặt của điều này? Vì câu hỏi rất khó nên ngay cả khi đã trả lời được, liệu ta có thể khẳng định là mình đã xác định đúng thế nào là cùng chủ đề không?
Nhìn chung, một cụm từ có mức độ đa nghĩa thấp hơn một từ. Nó chứng tỏ bạn không thấy thuyết phục hay tin tưởng. Nhiều người cho rằng đọc và nghe hoàn toàn bị động so với viết và nói.
Ví dụ, chúng ta thường rất vui khi một nhân vật được thừa kế nhiều tiền hoặc gặp vận may. Nói cách khác, cấp này vượt quá tầm kiểm soát của các cấp dưới. Đánh số những câu bạn tự diễn đạt và tìm mối liên hệ giữa chúng.
Không phải lúc nào bạn cũng tự mình tìm ra sự thống nhất trong nội dung một cuốn sách. Bạn không cần quan tâm đến nhân cách của tác giả hay tìm hiểu hoàn cảnh xã hội và kinh tế của họ. Khi tác giả và độc giả dồng thời sử dụng một từ với chỉ một nghĩa chung duy nhất, nghĩa là hai bên đã đạt đến sự thống nhất về ý kiến.
Khi bạn đọc và hiểu một cuốn sách triết học, bạn đã đạt tới vị thế của người phán xét. Còn trong một cuốn bách khoa toàn thư sắp xếp theo chủ đề, chúng thường được đánh dấu rõ ràng, nhưng điểm bất lợi là trong số những dữ kiện đó sẽ có những thứ mà người đọc không quen dùng. Hai nhà vật lý Einstein và Infeld khi viết lời tựa cho cuốn The Evolution of Physics (Sự phát triển của vật lý học) đã thổ lộ rằng họ mong muốn độc giả biết việc đọc một cuốn sách khoa học dù phổ thông thế nào cũng không thể giống cách đọc một cuốn tiểu thuyết.
Người ném bóng hay đánh bóng chính là người gửi thông tin theo nghĩa là hành động của họ khiến quả bóng chuyển động. Khi nói chuyện nghiêm túc, chúng ta muốn có thể thyết phục người khác hoặc tạo cho họ niềm tin vào những vấn đề mình nói. Mục 5, 6, 7 Nói về việc điều chỉnh Hiến pháp, vị thế của Hiến pháp như một bộ luật tối cao và những điều khoản dùng để phê chuẩn Hiến pháp.
Những gì bạn hiểu được (dù chỉ là một nửa hoặc ít hơn) sau khi đã đọc hết cuốn sách sẽ giúp bạn khi bạn cố gắng quay trở lại đọc những đoạn đã bị bỏ qua lần đầu. Vì thế, bạn nên luôn luôn tưởng tượng rằng, khi bạn đọc lời thoại của nhóm Chorus thì đó là lời nói của những người có sức vóc như bạn. Có thể bạn chỉ đánh dấu những từ cụ thể sau khi gặp khó khăn trong việc tìm hiểu ý nghĩa một câu.
Họ đã cố gắng tổ chức triết học giống như cách họ làm với toán học. Trong khi đó, một cuốn sách hay sẽ có phần thưởng cho bạn khi bạn nỗ lực đọc nó. Chẳng mấy chốc, bạn có thể đọc được các con chữ khi bạn dõi theo bàn tay.
Bạn có thể áp dụng nhiều cách sử dụng từ điển hiệu quả đã nói ở trên đối với bách khoa toàn thư. Hầu hết các khoá học tốc độ không giải quyết được vấn đề này. Do đó, quy tắc 3 không chỉ liên quan đến việc liệt kê các phần trong sách, mà còn bao hàm việc lập dàn ý từng phần, coi đó là những tập hợp con mà mỗi phần lại có tính chỉnh thể và phức tạp riêng.