Dấu chấm phẩy (;) và từ vì báo nhiệu sự ngắt ý. Bạn không nên chỉ áp dụng một tốc độ đọc duy nhất mà bạn cho là đúng. Vì thế, một khoá dạy đọc tốc độ cần dạy bạn đọc với những tốc độ khác nhau, chứ không phải tốc độ nhanh hơn tốc độ hiện thời của bạn.
Xét về lý thuyết, dàn ý một cuốn sách có thể dài hơn chính cuốn sách đó. Quy tắc thứ hai của việc đọc hiểu ý tác giả đòi hỏi ta phải tìm ra được các câu then chốt trong tác phẩm, từ đó hiểu được hàm ý của tác giả. Các nhà toán học đã miêu tả mối liên hệ giữa những chiếc cúc và khuyết trên một cái áo là sự tương ứng 1-1.
Đó là một nhận định rất vô tư, nhưng bạn cần nhớ nó. Nếu độc giả đồng ý với kết luận của cuốn sách và công nhận các phương pháp nó đề xuất là thích hợp và hiệu quả thì người ấy mới phải hành động theo cuốn sách. Bạn có thể kể lại kinh nghiệm nào của bản thân mà nhận định đó miêu tả, hoặc chỉ ra mức độ phù hợp giữa nhận định của tác giả với thực tế trải nghiệm của bạn không? Bạn có thể minh hoạ cho chân lý đã được phát biểu bằng những ví dụ cụ thể hay không? Tưởng tượng ra một trường hợp khả thi cũng hiệu quả không kém việc nêu ra một tình huống thật.
Do đó, độc giả không chỉ nêu ý kiến phản đối hoặc tán thành mà còn phải bảo vệ ý kiến của mình bằng những lý do phù hợp. Nếu bạn hiểu nhận định ẩn chứa trong câu, tức là bạn đã hoàn toàn hiểu được các thuật ngữ. Văn viết chặt chẽ và súc tích yêu cầu chúng ta phải luôn chú ý.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhớ rằng sử gia phải luôn dựng nên một cái gì đó. Cuốn sách nào không đảm bảo hai yếu tố này thì chỉ là một mớ bòng bong khó đọc. Có hai loại phần thưởng.
Khía cạnh ngữ pháp là phần xử lý từ ngữ, khía cạnh logic là bước xác định ý nghĩa hay nói một cách chính xác là xác định các thuật ngữ. Vì thế, cho dù bạn đọc cái gì, ít nhiều cũng cần có tính tích cực. Họ muốn biết liệu một điều gì đó có đúng là như vậy không, chứ không để ý đến lý do tại sao.
Do việc phải biết cấu trúc của một cuốn sách hết sức cần thiết nên chúng ta có quy tắc đọc sách thứ hai và thứ ba. Tuy nhiên, những quy tắc chung này phải được điều chỉnh ít nhiều khi áp dụng đối với từng thể loại văn học giả tưởng khác nhau. Đò là khi bạn gấp sách lại sau khi đã đọc và suy ngẫm hết khả năng của mình, bạn bỗng nghi ngờ cuốn sách còn có những điều bạn chưa hiểu hết.
Phần lớn sách triết học đều nêu lên một số giả thuyết mà các tác giả cho là hiển nhiên. Chính đặc tính này của dữ kiện đã mang lại tiếng nói và phong cách cho bách khoa toàn thư. Tuy nhiên, có rất nhiều cách nói có, vài kiểu nói không và ít nhất là ba cách khác nhau nói chúng ta không thể biết.
Trên thực tế, việc chỉ trả lời được những câu hỏi về dữ kiện cuốn sách chỉ thể hiện khả năng đọc sơ cấp (tức là trả lời câu hỏi Cuốn sách nói về điều gì?). Càng thực hành quy tắc này nhiều bạn càng ý thức được tính phức tạp của vấn đề. Khái niệm sách kinh điển có thể vượt ra ngoài những ví dụ trên.
Những vấn đề xoay quanh một loạt câu hỏi gắn bó chặt chẽ với nhau được gọi là cuộc tranh luận về một khía cạnh của vấn đề. Họ nói rằng hoàn toàn sai lầm khi áp đặt một hệ thống thuật ngữ dù là trung tính lên một tác giả. Tiêu biểu chỉ có thể kể đến các vở bi kịch của Aeschylus, Sophocles và Euripedes, các vở kịch của Shakespeare, các vở hài kịch của Moliere và một vài tác phẩm của số ít nhà văn hiện đại.